Sơ đồ Website
English 

 Xem theo số báo
Tháng Số mới nhất 
 

 Liên kết
Bộ BCVT (MPT)
Chính phủ

 Tìm kiếm

 

517686

Trang nhất > Tin tức - Sự kiện - Nhân vật
Thông tin truyền thông và việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá
2:49, 30/06/2009


 

 

Đỗ Quý Doãn

Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng và vị thế ngày càng nâng cao của đất nước, việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá - một trong 3 trụ cột quan trọng của Ngoại giao đang trở thành nhu cầu tất yếu đối với Việt Nam. Trong thế chân kiềng đó, Ngoại giao văn hóa có vai trò hết sức quan trọng, vì nó vừa là nền tảng tinh thần, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam; nó bổ trợ rất hữu hiệu cho các trụ cột khác, tạo thành một chỉnh thể chính sách đối ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại. Có thể nói văn hóa mang thế mạnh đặc thù, là nhân tố duy nhất có thể thâm nhập mọi lĩnh vực và hiện hình trong sức mạnh tổng hợp của mọi quốc gia. Nhìn rộng ra, chúng ta thấy một quốc gia muốn trở thành cường quốc khu vực hay thế giới thì nền văn hóa của quốc gia đó phải có sức hút trên phạm vi khu vực hay thế giới. Còn đối với một nước vừa và nhỏ, muốn tồn tại và phát triển thì càng phải phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó nhân thêm sức mạnh của mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giành được sự coi trọng của các nước và có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế.

 

Với một đất nước có bề dày hàng nghìn năm văn hiến, ngoại giao văn hoá sẽ tạo dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam tươi đẹp, phát triển năng động; mến khách, có một nền văn hoá độc đáo, đa dạng, giàu bản sắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì mục tiêu dâu giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đẩy mạnh ngoại giao văn hoá là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thông tin và truyền thông là một trong những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong công tác ngoại giao văn hoá.

 

1. Hiểu rõ khái niệm văn hoá và chức năng văn hoá khi thực hiện nhiệm vụ ngoại giao văn hoá:

Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật  và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá đã làm cho chúng ta trở thành một sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân.

 

Ðứng từ góc độ bản chất của văn hoá, văn hoá có 5 chức năng:  

- Chức năng giáo dục: là chức năng mà văn hoá thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra.  

- Chức năng nhận thức: Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hoá. Bởi, con người không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hành động văn hoá nào.  

- Chức năng thẩm mỹ: Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp. Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nên văn hóa phải có chức năng này. Nói cách khác, văn hoá là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp.

- Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, ngoài hoạt động lao động và sáng tạo, con người còn có nhu cầu giải trí. Các hoạt động văn hoá, câu lạc bộ, bảo tàng, lễ hội, ca nhạc,... sẽ đáp ứng được các nhu cầu ấy. Như vậy, sự giải trí bằng các hoạt động văn hoá là bổ ích, cần thiết, góp phần giúp cho con người lao động sáng tạo có hiệu quả hơn và giúp con người phát triển toàn diện.

 

Với các chức năng trên, chứng tỏ văn hoá có một đời sống riêng, quy luật hoạt động riêng nhưng lại không nằm ngoài kinh tế và chính trị.

Vì sự phát triển và hoàn thiện con người và xã hội là mục tiêu cao cả của văn hoá.

 

2. Tiếp xúc và giao lưu văn hoá - cốt lõi của ngoại giao văn hoá:

Tiếp xúc văn hoá là hiện tượng nền văn hoá của cộng đồng này gặp gỡ hoặc ở gần đến mức có thể trực tiếp chịu tác động, gây ra những biến đổi văn hoá của cộng đồng khác. Đây là giai đoạn đầu, là điều kiện để dẫn tới sự giao lưu văn hoá. Song không phải cuộc tiếp xúc nào cũng dẫn đến quá trình giao lưu văn hoá. Mà, giao lưu văn hoá chỉ có thể xem là hệ quả tất yếu của sự tiếp xúc văn hoá khi sự tiếp xúc đó diễn ra liên tục và trong một thời gian dài và gây ra những biến đổi về mô thức văn hoá ban đầu. Giao lưu văn hoá là sự trao đổi qua lại trong một quá trình lâu dài, trực tiếp giữa hai nền văn hoá của hai cộng đồng người khác nhau. Giao lưu văn hoá là sự vận động thường xuyên của văn hoá. Nó không chỉ là động lực phát triển của văn hoá mà còn là động lực của của sự tiến hoá xã hội.

 

Ngay từ thời tiền sử, sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá đã diễn ra trong lịch sử loài người. Song điều đó không phải là bản thân hoạt động văn hoá mang lại mà nó diễn ra nhờ hoạt động trao đổi kinh tế và nhiều hoạt động trao đổi “phi kinh tế” như sự trao đổi tặng phẩm tôn giáo; hoặc nhờ những sự tiếp xúc khác như hôn nhân, ngoại giao… ngoài ra các cuộc thiên di thường xảy ra trong thời nguyên thuỷ và cổ trung đại  làm cho các tập đoàn người có văn hoá khác nhau đã vô tình đến bên nhau, xen kẽ nhau cùng dẫn đến sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá.

 

Trong quá trình giao lưu văn hoá, một điều tất yếu sẽ xảy ra là, bất kể văn hoá của cộng đồng người đang ở nấc thang nào của sự tiến hoá nhân loại thì một  số tất yếu văn hoá của cộng đồng người này có thể lan truyền đến cộng đồng người kia. Các yếu tố văn hoá này có khi là cá biệt, rời rạc; nhưng có khi lại kết thành hệ thống chặt chẽ; có khi lại kết dính với những yếu tố văn hoá truyền thống; có khi lại làm đổi mới mạnh mẽ các yếu tố văn hoá cũ. Như vậy người ta gọi những yếu tố văn hoá đó là yếu tố ngoại sinh. Vì vậy, có thể giao lưu văn hoá vừa là kết quả của trao đổi, vừa là chính bản thân sự trao đổi. Có hiểu như vậy mới thấy hết tầm quan trọng của giao lưu văn hoá trong lịch sử nhân loại. Nó là một động lực thúc đẩy phát triển của lịch sử.

 

Như mọi sự vật và hiện tượng khác, văn hoá cũng có tính hai mặt tích cực và tiêu cực, tốt và chưa tốt, văn hoá và sản phẩm văn hoá. Song, nếu, vì thế mà từ chối và ngăn cấm một cách cực đoan, thái quá, việc giao lưu văn hoá là hết sức sai lầm. Chỉ có việc giao lưu văn hoá một cách chủ động, tích cực và có lựa chọn mới là phương sách thông minh và đúng đắn nhất.

 

Việt Nam nằm ở ngã ba đường của sự giao lưu khu vực Đông Nam Á và thế giới. Vì thế trong lịch sử dân tộc đã tiếp xúc và giao lưu với nhiều nền văn hoá của nhân loại. Đó là sự tiếp xúc giao lưu văn hoá đầu tiên giữa Việt Nam và Đông Nam Á. Rồi là sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá của người Việt Nam với văn hoá Trung Hoa qua con đường triều đình hoặc con đường truyền giáo và cả con đường di dân, với nhiều lĩnh vực như: kỹ thuật (nghề in, làm giấy, chế tạo thuốc súng…), trong đời sống văn hoá (chữ viết, nho giáo, đạo đức, y học…). Mặt khác Việt Nam lại tiếp xúc và giao lưu văn hoá với văn hoá Ấn Độ. Bước vào thời kỳ cận đại, Việt Nam, một mặt phải tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành độc lập dân tộc, mặt khác phải tiếp nhận nhiều nhân tố phương Tây để hiện đại hoá đất nước. Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, sự tiếp xúc này dù chưa sâu, nhưng để lại dấu ấn nhất định vừa tiêu cực, vừa tích cực. Vóc dáng và trữ lượng của văn hoá Việt Nam hôm nay mang đầy đủ truyền thống văn hoá người Việt cổ- những yếu tố nội sinh, bản địa, đồng thời cũng hoà đồng những giá trị văn hoá ngoại lai-những yếu tố ngoại sinh-của các dân tộc khác mà văn hoá Việt Nam đã tiếp nhận và “Việt hoá” trong những cuộc tiếp xúc và giao lưu văn hoá đó.

 

Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hôm nay, với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với các nước”, văn hoá Việt Nam sẽ có những vận hội mới để tiếp xúc và giao lưu hơn nữa với văn hoá khu vực và thế giới.

 

3. Vai trò của thông tin và truyền thông trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá:

a) Lực lượng truyền thông đại chúng ở Việt Nam

Cùng với quá trình đổi mới đất nước, báo chí Việt Nam có bước phát triển vượt bậc về nhiều mặt. Ngày nay, cả nước có một hệ thống báo chí khá hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương. Hầu hết các lĩnh vực thiết yếu của đất nước và đời sống xã hội đều có báo, đài đảm nhiệm hoặc được thông tin, phản ánh trên báo, đài. Thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước nhanh chóng được chuyển tải đến các tầng lớp nhân dân. Báo chí góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng một phần nhu cầu văn hoá, giải trí của nhân dân, giới thiệu với các dân tộc và bạn bè trên thế giới về đất nước, con ngươi Việt Nam, về những thành tựu của công cuộc đổi mới

 

Về lĩnh vực báo in: Đến nay, toàn quốc có 633 cơ quan báo chí với 803 ấn phẩm;  một hãng thông tấn quốc gia. Đội ngũ phóng viên phát triển về số lượng và được nâng lên về chất lượng.

Hiện nay cả nước có gần 15 nghìn nhà báo được cấp thẻ, nhiều nhà báo có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, tiến bộ nhanh về nghiệp vụ, am hiểu nghề nghiệp tiếp cận nhanh phong cách làm báo hiện đại, trưởng thành từ thực tiễn của đổi mới.

 

Về báo điện tử: Số lượng các cơ quan báo chí cung cấp thông tin trên Internet: 168. Trong đó số lượng các báo điện tử (không phụ thuộc toà soạn báo in hoặc đài PT-TH) là 10 báo. Ngoài ra cũng có trên 2.500 website đang hoạt động và thường xuyên cung cấp thông tin. 

 

Tuy là loại hình báo chí ra đời muộn, nhưng ngay từ khi gia nhập làng báo Việt Nam, báo điện tử đã thể hiện “sức trẻ” vượt bậc so với các loại hình báo chí khác về mọi phương diện. Đó là chính nhờ khả năng kết hợp đa đạng các loại hình báo chí, lợi thế cập nhật thông tin nhanh, liên tục, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Chính nhờ những lợi thế này, chỉ trong một thời gian ngắn báo điện tử  Việt Nam đã khẳng định được vai trò và hiệu quả lớn trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đây thực sự “cầu nối” thông tin trong nước với cộng đồng người Việt đang sinh sống và học tập ở nước ngoài vốn đang rất mong muốn được giao lưu tình cảm với quê hương, người thân và muốn theo dõi tình hình đổi mới ở nước ta. Các cơ quan báo chí truyền thống như báo in, phát thanh-truyền hình đã rất coi trọng phát triển hình thức thông tin trên Internet, coi đây là phương tiện thông tin đối ngoại hiệu quả nhất.

 

Về hệ thống phát thanh, truyền hình: Đến nay, cả nước có 67 đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương, bao gồm: 03 Đài phủ sóng toàn quốc: Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC. 64 Đài Phát thanh, truyền hình địa phương gồm 62 Đài Phát thanh, Truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; riêng TP. Hồ Chí Minh có 2 đài: Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Theo số liệu chưa đầy đủ, toàn quốc có gần 1 nghìn trạm phát lại tín hiệu truyền hình được đầu tư từ chương trình phủ sóng vùng lõm, các chương trình của các Bộ, ngành; hơn 8.000 đài truyền thanh hoặc cụm truyền thanh cấp xã, gần 700 đài phát thanh truyền hình cấp huyện. Trong đó có khoảng 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có hệ thống đài cấp xã phủ kín toàn bộ số lượng các xã, thị trấn.   

Đài Tiếng nói Việt Nam: Đang phát sóng với thời lượng hơn 200 giờ/ngày trên 6 hệ phát thanh (4 hệ đối nội và 2 hệ đối ngoại). VOV1 là hệ thời sự chính trị tổng hợp, cung cấp tin tức thời sự; VOV2 là hệ văn hoá và đời sống xã hội, cung cấp thông tin về các vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống tinh thần; VOV3 là hệ âm nhạc, thông tin và giải trí phát sóng liên tục 24 giờ mỗi ngày trên sóng FM; VOV4 là hệ phát thanh các thứ tiếng dân tộc, phát sóng 11 thứ tiếng hướng đến đối tượng là thính giả người dân tộc thiểu số Việt Nam; VOV5 phát trên sóng FM bằng nhiều thứ tiếng cho đối tượng là cộng đồng người nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam; VOV6 là hệ phát thanh đối ngoại phát trên sóng trung AM, sóng ngắn SW, FM và phát trực tuyến trên mạng bằng 12 thứ tiếng dành cho kiều bào Việt Nam ở xa Tổ quốc. Tổng công suất phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam là 7.200 KW, diện phủ sóng quốc gia là 97,5% diện tích lãnh thổ với khoảng 82% dân số.

 

Đài Truyền hình Việt Nam: Đang phát sóng với thời lượng 112,5 giờ/ngày trên 6 kênh truyền hình quảng bá, bao gồm: VTV1 kênh thời sự - chính trị, kinh tế - xã hội tổng hợp với nội dung phong phú, đa dạng; VTV2 là kênh thông tin khoa học-giáo dục, phổ biến kiến thức; VTV3 là kênh thể thao, giải trí, thông tin kinh tế, phát sóng 24/24 giờ; VTV4 là kênh thông tin đối ngoại hiện đang phát sóng đến nhiều châu lục, phát sóng 24/24 giờ; VTV5 là kênh thông tin dành cho đồng bào dân tộc thiểu số phát bằng 15 thứ tiếng các dân tộc, phát sóng 10 giờ/ngày; VTV9 là kênh truyền hình dành riêng khu vực miền Đông Nam Bộ, phát sóng 18 giờ/ngày. Đài Truyền hình Việt Nam đang phát thử nghiệm kênh truyền hình VTV6 dành cho thanh thiếu niên với thời lượng 8 giờ/ngày.

 

Về phát sóng quảng bá, Đài Truyền hình Việt Nam hiện đang sử dụng phương thức phát sóng mặt đất tương tự (analog) trên 90% diện tích lãnh thổ và phủ sóng trực tiếp qua vệ tinh kỹ thuật số DTH 100% diện tích. Riêng chương trình VTV4 đang được phát trên vệ tinh đã phủ sóng toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và đến nhiều khu vực trên thế giới, trong đó châu Á (100% diện tích), châu Âu, Bắc Mỹ và Canada, Bắc Châu Phi.

 

Các chương trình truyền hình trả tiền được truyền dẫn qua mạng truyền hình cáp (CATV) được triển khai ở các địa phương và được phủ sóng trực tiếp qua vệ tinh (DTH) với tổng cộng khoảng 1 triệu thuê bao, và là hệ thống truyền hình trả tiền lớn nhất Việt Nam.

 

Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC: Phát sóng 13 kênh chương trình truyền hình do đài tự sản xuất (VTC1 đến VTC13), 10 kênh chương trình truyền hình, phát thanh quảng bá trong nước, 10 kênh chương trình nước ngoài.

 

Do ưu thế về công nghệ, các chương trình của Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC sử dụng đa phương tiện truyền thông để truyền dẫn, phát sóng các chương trình truyền hình, bao gồm truyền hình kỹ thuật số mặt đất và truyền hình tương tự, truyền hình trên điện thoại di động, truyền hình trên mạng Internet và cả trên một số mạng cáp. Dự kiến cuối năm 2008 sẽ phát sóng trực tiếp qua vệ tinh Vinasat-1. Do sớm tích hợp thành công phát thanh truyền hình hình với viễn thông và công nghệ thông tin, hiện nay truyền hình trên Internet của VTC đang trở thành kênh thông tin đến được với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trở thành phương tiện truyền thông hiệu quả phục vụ thông tin đối ngoại.

 

b) Vai trò của TTĐC trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá.

Với khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ, rộng lớn các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò to lớn trong việc nâng cao dân trí, xây dựng các chuẩn mực lối sống, đạo đức, ứng xử tốt đẹp, bồi dưỡng nhân cách làm phong phú thêm đời sống văn hoá của toàn xã hội góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hoá.

 

- Thông tin đại chúng là phương tiện truyền bá văn hoá, giáo dục văn hoá, bồi dưỡng năng lực sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi người;

- Các phương tiện thông tin đại chúng trong quá trình công bố, truyền tải, lưu giữ đồng thời cũng làm chức năng tiêu thụ các sản phẩm văn hoá do các nghệ sĩ, nghệ nhân và quần chúng sáng tạo nên;

- Các phương tiện thông tin đại chúng thông qua truyền tải, giới thiệu, phổ cập văn hoá góp phần quảng bá giới thiệu hình ảnh, đất nước con người, văn hoá Việt Nam với bạn bè thế giới và giới thiệu văn hoá các dân tộc trên thế giới với công chúng Việt Nam;

 

Thông tin đại chúng là nơi truyền tải, tiêu thụ các sản phẩm văn hoá do các nghệ sĩ trong nước và quốc tế sáng tạo như thơ, văn xuôi, kịch, múa, âm nhạc, tranh ảnh, phim các loại, các công trình nghệ thuật kiến trúc, công trình khoa học lớn. Giới thiệu các công trình nghiên cứu về văn hoá trong và ngoài nước; diễn đàn của các nghệ sĩ, các nhà khoa học nổi tiếng trong nước và thế giới. Phát hiện, giới thiệu các di sản và truyền thống văn hoá dân tộc tốt đẹp của các địa phương, vùng, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách về văn hoá của Đảng và Nhà nước; đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, xuống cấp  về văn hoá, đề cao, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chống ảnh hưởng văn hoá ngoại lai, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.

 

Nhiều tờ báo lớn đã dùng nhiều thể loại và mở nhiều chuyên mục chuyên trang, số chuyên đề về văn hoá và thường xuyên mỗi ngày có nửa trang hoặc cả trang văn hoá nghệ thuật, các số chủ nhật, cuối tháng, cuối tuần tỷ lệ nội dung văn hoá nghệ thuật khá lớn; số báo có trang văn nghệ thường xuyên, các tạp chí văn nghệ, số chuyên đề văn nghệ khá nhiều và mang nội dung văn hoá dân tộc và tính nhân dân.

 

Sự truyền tải thông tin bằng âm thanh, tiếng nói của Đài phát thanh đã tạo cho nó ưu thế đặc biệt về công chúng. Đối với nước ta, phần lớn nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, miền núi còn nghèo và với phương tiện phát thanh truyền thanh số người ở tận hang cùng, ngõ hẻm, người dân bình thường cũng có thể được thưởng thức những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng do những nghệ sĩ tài năng trong và ngoài nước biểu diễn. Một chương trình phát thanh trở thành chương trình văn hoá tổng hợp thành món ăn tinh thần bổ ích, thành nhà sư phạm tập thể, giáo dục và hướng dẫn con người những tri thức về cuộc sống, cách đối nhân xử thế, lối sống trong tập thể, ngoài xã hội...

 

Với chương trình đối ngoại phong phú, hấp dẫn. Đài phát thanh là phương tiện tuyên truyền đối ngoại quan trọng giới thiệu văn hoá Việt Nam ra nước ngoài, nhất là đối với trên 3 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và công tác ở nước ngoài và những người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam.

 

Sự xuất hiện của truyền hình thực sự là cuộc cách mạng trong thông tin đại chúng tạo ra những điều kiện và khả năng to lớn cho báo chí thực hiện chức năng văn hoá, giải trí. Truyền hình trở thành một loại nhà hát, quảng trường công cộng, trường học nhân dân, người hướng dẫn văn hoá đại chúng, phương tiện thông tin,giải trí có sức hấp dẫn và hiệu quả lớn nhất, là sân khấu của mọi người, mọi tầng lớp...  

 

Cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện nay đang đưa loài người vào kỷ nguyên thông tin, xã hội thông tin. Hệ thống thông tin vệ tinh phủ sóng khắp địa cầu truyền thông tin qua cáp quang, các dịch vụ phát thanh truyền hình, bưu chính viễn thông và đặc biệt là Internet đã làm cho thế giới thu nhỏ lại. Hiện nay, mạng máy tính toàn cầu Internet đã có hơn 24% dân số với hơn 18 triệu người sử dụng ở Việt Nam, là một bước phát triển nhảy vọt trong lĩnh vực thông tin. Có thể nói Internet là một kho thông tin khổng lồ và hiệu quả đem đến cho con người điều kiện thuận lợi và khả năng hết sức to lớn trong việc nâng cao kiến thức, thưởng thức văn hoá nghệ thuật, làm phong phú đời sống văn hoá của mình và là một công cụ quan trọng góp phần thúc đẩy nhiệm vụ ngoại giao văn hoá.

 

Báo chí, phát thanh truyền hình, Internet các phương tiện bưu chính viễn thông... đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, xây dựng nền văn hoá của mỗi dân tộc, đồng thời cũng tạo thời cơ lớn cho sự tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, quốc gia, làm cho con người hiểu biết về nhau đầy đủ, sâu sắc hơn. Những giá trị văn hoá của mỗi dân tộc, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng mà trở thành tài sản, giá trị chung của nhân loại và ngược lại mỗi dân tộc có điều kiện tiếp thu những giá trị chung của văn hoá nhân loại. Sự hiểu biết và đời sống tinh thần của con người có khả năng được nâng cao và trở nên phong phú với những phương tiện thuận lợi , giá chi phí ngày càng rẻ cho phép đông đảo nhân dân có điều kiện nâng cao dân trí, thưởng thức văn hoá, nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu của đời sống tinh thần.

 

c. Một số nhiệm vụ chủ yếu của TTĐC trong việc đẩy mạnh nhiệm vụ ngoại giao văn hoá

Ngoại giao văn hoá là một trong 3 trụ cột quan trọng của công tác ngoại giao. Như trên đã trình bày về thực lực và vai trò của thông tin truyền thông, để làm tốt công tác ngoại giao văn hoá. Thông tin truyền thông cần tập trung một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

 

1. Ngoại giao văn hoá là con đường ngắn nhất, là cầu nối liên kết các dân tộc trên thế giới gần lại với nhau. Vì vậy, thông tin truyền thông phải đi trước một bước, phải thực sự là người lính xung kích mở đường cho việc thực hiện các nhiệm vụ quan trọng khi tiến hành ngoại giao văn hóa.

 

2. Tăng cường quảng bá, giới thiệu trên các phương tiện thông tin của Việt Nam và các nước thông tin, hình ảnh về đất nước, con người và văn hoá của các quốc gia trên thế giới để giúp cho nhân dân mỗi nước hiểu rõ hơn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, làm tiền đề cho công tác ngoại giao văn hóa.

 

3. Thường xuyên mời và trao đổi các đoàn phóng viên báo chí của các loại hình báo chí trực tiếp đến Việt Nam tiếp xúc, khai thác và giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng của nước bạn những thông tin và hình ảnh của đất nước để giúp nhân dân các nước hiểu rõ hơn đất nước, con người và văn hóa Việt Nam.

 

4. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam ở các nước để chủ động hơn nữa việc tổ chức mời, trao đổi, cung cấp thông tin để các phương tiện thông tin nước ngoài hiểu đầy đủ, toàn diện và có thái độ khách quan khi thông tin về tình hình nước ta.

 

5. Nâng cáo hơn nữa trình độ mọi mặt, sự hiểu biết về văn hóa của các dân tộc trên thế giới cho đội ngũ nhà báo Việt Nam, góp phần làm tốt hơn vai trò là người xung kích trong lĩnh vực thông tin tuyên truyền về ngoại giao văn hoá.

 

6. Phát huy lợi thế của báo chí điện tử, trang tin điện tử trên mạng Internet để làm nhiệm vụ tuyên truyền về văn hoá và ngoại giao văn hoá. Tranh thủ các kênh để đưa báo chí, sách Việt Nam ra nước ngoài. Chủ động tham gia các Hội chợ sách báo quốc tế để quảng bá, giới thiệu văn hoá Việt Nam.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

[2]. Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2001.

[3]. Phan Ngọc, Bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá-Thông tin , Hà Nội – 1998.

[4]. Mấy vấn đề văn hoá và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hà Nội – 1992.

[5]. Khái niệm và quan niệm về văn hoá, Viện Văn hoá, Hà Nội – 1986.

[6]. Thông tin đại chúng và nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Trong tập Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội – 1999.


 

Email bài này | Liên hệ | In bài này  
Các bài mới:
     Hội Sách thành phố Hồ Chí Minh 2010 (16/03)
     3G VinaPhone được khách hàng ưa thích nhất (15/03)
     Năm 2010 là cơ hội để đẩy mạnh hoạt động, chất lượng báo chí ngành TT&TT (14/03)
     Khuyến nghị ITU-R M.1850 thúc đẩy sự phổ biến của điện thoại 3G (12/03)
     Đảng ủy Bộ TT&TT học tập tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng (12/03)
     Mẫu xe Audi A8 2010 trang bị kết nối 3G của Qualcomm (10/03)
     Việt Nam cung cấp Ví điện tử (10/03)
Các bài đã đăng:
     Tháng 11/2009, Vietnam Comm & Vietnam Electronics 2009 sẽ diễn ra tại Hà Nội (26/06)
     VKX – Chặng đường 15 năm phát triển (23/06)
     VIETTEL trở thành điểm trung chuyển về kết nối viễn thông tại khu vực Đông Dương (21/06)

Các tin khác 

 

 
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

© Bản quyền thuộc Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: 95E, Lý Nam Đế, Hà Nội.  Điện thoại: (04)37737136.   Fax: (04)37737130.   Email: tapchibcvt@mic.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Thông tin và Truyền thông. Phó Tổng biên tập phụ trách: Vũ Chí Kiên
Giấp phép số 131/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và trang tin điện tử cấp ngày 7/10/2009.