ThS. Trần Mạnh Dũng
1. Tổng quan
Dịch vụ điện thoại di động (ĐTDĐ) không phải là loại dịch vụ viễn thông mà chính phủ các nước nói chung, và Chính phủ Việt Nam nói riêng đưa vào danh mục dịch vụ viễn thông công ích (VTCI). Nhưng nhờ chính sách mở cửa thị trường cho cạnh tranh, các mạng di động nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Chất lượng dịch vụ di động ngày càng được nâng cao và giá cước ngày càng hạ. Tỷ lệ số thuê bao di động trên tổng số thuê bao điện thoại đã tăng lên đáng kể. Nhờ đó, dịch vụ di động đã đáp ứng được một trong các mục tiêu quan trọng của dịch vụ công ích là tạo khả năng truy cập rộng rãi dịch vụ điện thoại với giá cả chấp nhận được cho đa số dân chúng. Kết quả đó là do chính sách cạnh tranh mang lại.
Trong bối cảnh ấy, Chính phủ các nước cần phải xem xét lại chính sách về nghĩa vụ dịch vụ công ích. Chẳng hạn, Chính phủ có thể phải loại bỏ nghĩa vụ cung cấp dịch vụ truy cập dưới giá thành đối với các nhà khai thác điện thoại cố định.
Theo truyền thống, để thực hiện mục tiêu xã hội, các nhà khai thác viễn thông thường lấy dịch vụ đường dài và quốc tế để bù lỗ cho dịch vụ nội hạt. Tuy nhiên, về lâu dài nếu giữ giá điện thoại cố định dưới mức giá thành sẽ không khuyến khích đầu tư vào mạng nội hạt, trong khi mức giá cước dịch vụ điện thoại đường dài và quốc tế cao làm giảm tính cạnh tranh của quốc gia trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Do vậy, trong môi trường cạnh tranh hiện nay, khi các nhà khai thác di động đang cung cấp dịch vụ di động thương mại với mức cước di động rất thấp, thì cơ chế bù lỗ chéo nêu trên để phục vụ mục tiêu dịch vụ VTCI là không còn phù hợp.
Để công bằng hơn, chính sách dịch vụ VTCI trong thế kỷ 21 cần phải tập trung vào các lĩnh vực mà dịch vụ điện thoại thương mại hiện đang khó khăn đạt được mục tiêu công ích với mức cước chấp nhận được cho người dân có thu nhập thấp ở thành thị cũng như ở vùng sâu, vùng xa. Loại hình dịch vụ VTCI bao gồm cả dịch vụ điện thoại cơ bản và dịch vụ phi thoại như Internet.
2. Hành động của các nhà khai thác
Các nhà khai thác điện thoại cố định chủ đạo cần phải nắm lấy cơ hội này để cân đối lại giá cước, thậm chí ngay cả khi phải từ bỏ vị thế đặc quyền là nhà cung cấp dịch vụ công ích duy nhất. Thực hiện việc chuyển đổi này không phải là việc dễ dàng, vì việc cân đối lại giá cước cần phải thận trọng để đảm bảo cân đối nguồn thu cho doanh nghiệp (DN) từ mạng truy nhập đã đầu tư. Điều này có nghĩa là họ phải định giá dựa trên sự sẵn sàng chi trả của khách hàng, cũng như các chi phí chìm đã đầu tư vào mạng truy nhập. Tuy nhiên, một khi đã cân đối lại cước phí, luồng tiền thu nhập của nhà khai thác điện thoại cố định từ các dịch vụ điện thoại cố định sẽ được đảm bảo hơn. Trong tương lai, lợi nhuận của nhà khai thác cố định chủ đạo sẽ được đảm bảo nếu họ định vị như là một nhà cung cấp dịch vụ điện thoại phục vụ cho các khách hàng có lưu lượng lớn cả dịch vụ thoại và phi thoại. Đây có lẽ là vấn đề sống còn đối với nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định chủ đạo. Mặt khác, về phía nhà nước, cần có những chính sách cải cách nhằm tái cấu trúc mạnh mẽ nhà khai thác chủ đạo để có thể giúp cho nhà khai thác chủ đạo thực hiện được mục tiêu nêu trên.
Nhà khai thác điện thoại cố định chủ đạo vẫn có vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ công ích, nhưng họ phải phối hợp với các nhà khai thác di động để giảm tối đa chi phí cung cấp dịch vụ công ích. Nhà khai thác điện thoại cố định chỉ phải đầu tư thêm vào những khu vực mà ở đó mật độ lưu lượng đủ để bù đắp chi phí đầu tư cho mạng truy nhập mới, hoặc ở nơi mà mục tiêu dịch vụ công ích rõ ràng, và được hỗ trợ bởi nguồn vốn từ quỹ dịch vụ công ích.
Việc cân đối lại giá cước sẽ loại bỏ khả năng các nhà khai thác ĐTDĐ phải bù chéo cho các nhà khai thác điện thoại cố định thông qua nghĩa vụ cung cấp dịch vụ công ích hay qua cước bù đắp thâm hụt truy nhập. Cước bù đắp thâm hụt này được thu từ các nhà khai thác di động để bù lỗ cho các nhà khai thác điện thoại cố định cung cấp dịch vụ dưới giá thành. Và chính dịch vụ điện thoại cố định giá thấp này lại cạnh tranh với chính dịch vụ ĐTDĐ. Thêm vào đó, việc cân đối lại cước sẽ giúp tăng doanh thu của các nhà cung cấp dịch vụ di động vì nhờ đó mà họ có thêm được các khách hàng nghèo rời bỏ sử dụng mạng điện thoại cố định do cước phí điện thoại cố định tăng.
Nếu điều chỉnh lại chính sách dịch vụ VTCI sao cho phản ánh sự thành công của dịch vụ di động với giá cước chấp nhận được cho đa số người dân, chính sách dịch vụ VTCI sẽ là cơ hội cho các nhà khai thác di động mở rộng vùng phủ sóng để phục vụ những khu vực dân cư nghèo và nhận được nguồn tài chính hỗ trợ từ quỹ dịch vụ VTCI.
Điều thách thức đối với các nhà khai thác di động là cần mở rộng danh mục sản phẩm để cung cấp cho khách hàng dịch vụ phi thoại có tính cạnh tranh với giá chấp nhận được, như Internet.
3. Sự phát triển của ĐTDĐ và chính sách dịch vụ VTCI
Trong những năm cuối của thế kỷ 20, trên thị trường dịch vụ viễn thông xuất hiện 3 xu hướng lớn sau đây:
- Tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông và tư nhân hóa các nhà khai thác độc quyền
- Sự tăng trưởng bùng nổ của các dịch vụ phi thoại, được cung cấp chủ yếu qua Internet
- Sự xuất hiện của ĐTDĐ như là một dịch vụ thị trường đại trà.
Tuy nhiên, chính sách dịch vụ VTCI của các nước chưa được điều chỉnh để phù hợp với các xu hướng này. Định nghĩa dịch vụ công ích hiện nay vẫn dựa chủ yếu vào quan điểm cho rằng dịch vụ thoại là dịch vụ quan trọng nhất, và điện thoại cố định là phương pháp tốt nhất để cung cấp dịch vụ công ích.
Cơ quan điều tiết viễn thông của nhiều quốc gia nói chung, và Việt Nam nói riêng chưa thích ứng với môi trường cạnh tranh trong chính sách cấp vốn cho dịch vụ công ích. Cụ thể, đó chủ yếu là do chưa xác định được chính xác chi phí cho việc cung cấp dịch vụ công ích và thiết lập cơ chế cấp vốn sao cho hiệu quả, công bằng, và hạn chế tối thiểu ảnh hưởng xấu đến thị trường. Việc bổ sung thêm dịch vụ mới như Internet vào danh mục các dịch vụ công ích, đã bị cản trở do sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ này. Cuối cùng, như phân tích ở trên, do sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ ĐTDĐ, dịch vụ này đã trở thành một phương tiện chủ đạo kết nối người dân với mạng lưới viễn thông trong hầu hết các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Thế nhưng chính sách dịch vụ công ích chưa phản ánh sự thay đổi này.
Sự xuất hiện của các nhà khai thác di động có vai trò như nhà cung cấp dịch vụ công ích là điều không mong đợi đối với các nhà hoạch định chính sách dịch vụ công ích ở các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Ban đầu khi xuất hiện, ĐTDĐ là dịch vụ đối lập với dịch vụ công ích, nhằm vào một thị trường hẹp là những khách hàng có khả năng tài chính tốt. Tuy nhiên, cạnh tranh tranh đã thúc đẩy ĐTDĐ phát triển nhanh chóng với giá cước và giá máy cầm tay ngày càng giảm, tỷ trọng thuê bao ngày càng tăng và vùng phủ sóng ngày càng rộng. Ở đây, mạng ĐTDĐ đã bị chi phối bởi hiệu ứng “câu lạc bộ”: càng đông, càng rẻ, càng vui! Kết quả là dịch vụ ĐTDĐ đã trở thành phương tiện cho đa số người dân kết nối với mạng viễn thông với chi phí chấp nhận được. Nói theo ngôn ngữ kinh tế học, mạng di động chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật “hiệu quả theo quy mô”. Đối với mạng ĐTDĐ, chi phí biên cho việc gia tăng thêm một thuê bao là rất thấp, chủ yếu là chi phí cho máy cầm tay của khách hàng. Điều này trái ngược với mạng điện thoại cố định truyền thống, khi chi phí biên do tăng thêm một thuê bao rất lớn do phải đầu tư thêm hạ tầng. Do đó, nhà khai thác thông tin di động có thể đặt mức cước thấp cho một số gói dịch vụ trả trước bình dân để thu hút khách hàng có thu nhập thấp. Hình thức dịch vụ di động trả trước không chỉ cho phép các nhà khai thác di động giảm được chi phí khai thác và giảm thất thoát cước, mà còn giúp người sử dụng tiện lợi khi sử dụng, và dễ dàng kiểm soát mức chi tiêu tốt hơn so với dịch vụ điện thoại cố định trả sau. Điều này tăng sức hấp dẫn của dịch vụ di động đối với khách hàng có thu nhập thấp. Thị trường di động iệt Nam đã chứng kiến tốc độ tăng thuê bao nhanh chóng nhờ dịch vụ trả trước.
4. Khả năng sử dụng và giá cước không cân bằng
Chính sách dịch vụ công ích hiện hành dựa trên quan điểm cho rằng nhà khai thác điện thoại cố định chủ đạo là nhà cung cấp dịch vụ công ích duy nhất. Do đó, Chính phủ yêu cầu họ phải cung cấp dịch vụ điện thoại với chi phí thấp thậm chí dưới giá thành để đa số người dân có thể sử dụng. Kết quả là, Nhà nước điều tiết cước kết nối và cước sử dụng sao cho đảm bảo mức cước chấp nhận được đối với đa số người dân. Tuy nhiên, trên thực tế, cước sử dụng thường được tính toán theo cảm tính hơn là dựa trên phân tích nghiêm túc. Qua phân tích kinh nghiệm của các nước nơi cho phép cân đối lại giá cước giữa dịch vụ điện thoại cố định và đường dài, cho thấy việc lo ngại rằng tăng giá dịch vụ điện thoại cố định sẽ làm cho khách hàng từ bỏ sử dụng dịch vụ điện thoại cố định là không có cơ sở.
Hơn nữa, việc tiếp tục kiểm soát giá cước dịch vụ điện thoại cố định của các nhà khai thác chủ đạo, bắt họ cung cấp dịch vụ dưới giá thành sẽ dẫn đến tình trạng không hấp dẫn đầu tư vào mạng điện thoại cố định. Điều này ảnh hưởng đến lợi ích của đông đảo khách hàng. Để giữ giá cước điện thoại cố định dưới mức giá thành, các Chính phủ thường cho phép các nhà khai thác điện thoại cố định đặt giá cước của các dịch vụ khác (dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế) cao hơn để đảm bảo lợi nhuận hợp lý. Việc bù lỗ chéo như vậy thường bị Cơ quan điều tiết viễn thông cấm vì gây ra nhiều hậu quả xấu.
5. Chính sách dịch vụ VTCI trong thế kỷ 21
Với sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ di động, nhiều người dân có khả năng truy cập mạng viễn thông với chi phí chấp nhận được. Tuy nhiên, các mục tiêu dịch vụ công ích khác vẫn cần phải thực thi. Đó là khả năng truy cập đối với mọi người dân để sử dụng các dịch vụ viễn thông cơ bản. Ngoài ra, còn có các mục tiêu mới như khả năng truy cập của mọi người dân vào mạng Internet. Do vậy, chính sách dịch vụ công ích cần được tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với môi trường mới.
Bước đầu tiên theo hướng tiếp tục phát triển chính sách dịch vụ VTCI là xác định và xem xét lại các mục tiêu trung hạn hợp lý cho dịch vụ VTCI. Các mục tiêu này cần phải dựa trên tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đối với các quốc gia giầu có, nơi mà các dịch vụ thoại băng hẹp đã công ích, mục tiêu của dịch vụ công ích sẽ là khả năng truy cập tại mỗi gia đình dịch vụ Internet băng rộng cũng như dịch vụ thoại. Đối với các quốc gia khác kém giàu có hơn, mục tiêu dịch vụ công ích cần phải được xây dựng sao cho khả thi hơn, ví dụ như đảm bảo khả năng truy cập dịch vụ thoại và Internet cho mọi xã, phường. Đồng thời chính sách dịch vụ công ích không nên phụ thuộc vào công nghệ truy cập cũng như nhà cung cấp dịch vụ, nhưng phải đảm bảo yêu cầu mức cước thấp nhất.
Như trên đã phân tích, mạng di động có những lợi thế về chi phí thấp khi cung cấp dịch vụ tại những khu vực có mức độ sử dụng thấp, vì mạng di động là mạng lưới truy cập chia sẻ. Tuy nhiên, mạng truy cập chia sẻ cũng có một đặc điểm là chi phí tăng thêm khi lưu lượng tăng lại cao hơn, vì lưu lượng tăng đòi hỏi bổ sung dung lượng của mạng truy cập. Điều này ngược lại với mạng cố định truyền thống, vì mạng này không nhạy cảm với lưu lượng. Sự khác biệt về đặc tính chi phí này của hai mạng đưa đến kết luận như sau: mạng ĐTDĐ có chi phí thấp hơn đối với các khách hàng cá nhân có mức sử dụng thấp (lưu lượng thấp), và đối với các vùng mà mật độ lưu lượng thấp. Ngược lại, mạng điện thoại cố định truyền thống lại có hiệu quả hơn khi mức độ sử dụng của mỗi thuê bao cao và ở những khu vực mật độ lưu lượng cao.
Tại các quốc gia phát triển, thị trường viễn thông tiếp tục phát triển nhờ sử dụng mạng điện thoại cố định để cung cấp dịch vụ truy cập Internet băng rộng và dịch vụ điện thoại cho các khách hàng có mức lưu lượng thoại lớn, trong khi đó dịch vụ di động lại cạnh tranh thu hút các khách hàng có mức sử dụng dịch vụ thoại thấp và hay di chuyển.
Trong khi dịch vụ ĐTDĐ đang thay thế dần dịch vụ điện thoại cố định, lợi thế về chi phí của mạng cố định đối với khách hàng có lưu lượng lớn đảm bảo vai trò của dịch vụ thoại cố định trong tương lai. Tại các nước đang phát triển, các nhà khai thác di động có thể đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ điện thoại duy nhất cho dân chúng ở một số khu vực mà tại đó dịch vụ điện thoai cố định khó vươn tới, hoặc vươn tới nhưng với chi phí khá cao. Ngoài ra, khả năng truy cập qua VSAT và mạch vòng vô tuyến cũng đóng góp một phần để cung cấp dịch vụ công ích.
Việt Nam là một quốc gia có vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa rộng lớn với mật độ dân cư thấp và thu nhập bình quân đầu người thấp, mật độ điện thoại/100 dân thấp. Để mang dịch vụ công ích đến các vùng sâu, vùng xa, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định phải chịu chi phí đầu tư thiết lập mạng lớn nên thiếu động lực để mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ. Trái lại, để nâng cao sức cạnh tranh các nhà khai thác di động đã không ngừng mở rộng vùng phủ sóng trên toàn quốc để cung cấp dịch vụ di động với chi phí ngày càng giảm và chất lượng ngày càng được cải thiện. Ngoài ra, các nhà khai thác di động còn cung cấp cả dịch vụ điện thoại cố định không dây. Nói cách khác, các nhà khai thác ĐTDĐ Việt Nam đã “tự nguyện” san sẻ trách nhiệm công ích dịch vụ điện thoại đến cho dân cư các vùng có thu nhập thấp trong khi Quỹ VTCI không cần cấp vốn cho họ.
Như vậy, tại các vùng sâu vùng xa có thu nhập thấp, vấn đề cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản công ích sẽ tập trung vào dịch vụ Internet. Để giải quyết vấn đề này, có thể sử dụng các điểm Bưu điện - Văn hóa xã do Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã phát triển trong nhiều năm để vừa cung cấp điểm truy cập Internet công cộng và đồng thời là điểm truy cập điện thoại cố định công cộng. Việc truy cập của cá nhân vào mạng điện thoại được các nhà khai thác di động đảm nhiệm một các tự nguyện không cần cấp vốn. Bằng cách đó, Nhà nước sẽ giảm được đáng kể chi phí cung cấp dịch vụ công ích. Mặt khác, khi chuyển sang công nghệ 3G trong tương lai gần, các nhà khai thác di động có thể cung cấp các dịch vụ phi thoại. Nếu được hỗ trợ từ quỹ dịch vụ VTCI, đây cũng có thể là một kênh mới cung cấp thêm dịch vụ VTCI cho vùng sâu vùng xa.
Ở tầm xa và cao hơn, khi khả năng tài chính cho phép, Nhà nước có thể cho đấu thầu cấp vốn cho các nhà khai thác viễn thông xây dựng các Trung tâm viễn thông cộng đồng đa mục tiêu (MTC) tại một số vùng sâu, vùng xa trọng điểm nhằm cung cấp đa dịch vụ công ích như: Đào tạo từ xa, Y tế từ xa, truy cập Internet và điện thoại công cộng… Vốn đầu tư cho các MTC có thể huy động từ các nguồn khác nhau: từ quỹ dịch vụ VTCI, từ vốn vay ODA, từ các nhà tài trợ trong nước và quốc tế. Đây là các điểm nhấn để tạo nên hình ảnh một xã hội thông tin bình đẳng cho mọi người dân Việt Nam.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ điện tử viễn thông và tin học, Nhà nước cần thường xuyên nghiên cứu sửa đổi chính sách dịch vụ công ích nhằm thích nghi với môi trường mới.
Tài liệu tham khảo
[1]. Sổ tay viễn thông – ITU
[2]. Sổ tay về Phổ cập Dịch vụ viễn thông ASEAN-China, tháng 12-2008
[3]. Tài liệu Hội thảo tại Tuần lễ ICT ASEAN - China, tại Nam Ninh-Trung Quốc, Tháng 12/2008. 