Sơ đồ Website
English 

 Xem theo số báo
Tháng Số mới nhất 
 

 Liên kết
Bộ TT&TT (MIC)
Chính phủ

 Tìm kiếm

 

386255

Trang nhất > Công nghệ Truyền thông
Quá trình quá độ sang các mạng NGN
10:55, 29/06/2009


 

 

MỞ ĐẦU

Ngày nay, các nhà cung cấp dịch vụ phải đối mặt với một môi trường kinh doanh và kỹ thuật phức tạp:

- Các chi phí bảo dưỡng song song một số mạng đang gia tăng.

- Các dịch vụ truyền thống đang chịu sức ép giá cả và thoại trở thành loại hàng có giá cố định ở rất nhiều nước.

- Tất cả các cung đoạn khách hàng, từ các khách hàng dân cư đến các doanh nghiệp (DN), đang yêu cầu các dịch vụ mới với các giá cả thấp hơn.

- Để cung cấp một phạm vi đầy đủ các dịch vụ, công ty điện thoại phải quản lý các trang thiết bị dùng riêng cho thoại, dữ liệu, video và nội dung.

- Các hệ thống riêng rẽ đòi hỏi phải hỗ trợ VPN DN, Internet tiêu dùng , chuyển tải và tính di động.


Để giảm bớt tính phức tạp và chi phí, các nhà cung cấp dịch vụ đòi hỏi một mạng mà nó có thể tiến triển một cách từ từ và cung cấp phạm vi rộng các dịch vụ nhằm gia tăng lợi nhuận và giảm bớt việc gây xáo trộn. Họ yêu cầu một cơ sở hạ tầng duy nhất và thống nhất để cung cấp tất cả các dịch vụ, bao gồm thoại, dữ liệu, video, nội dung, Internet và các VPN DN.

 

Mạng NGN đáp ứng các nhu cầu phát triển này bằng cách biến đổi lớp ứng dụng, lớp dàn xếp dịch vụ và lớp hạ tầng cơ sở của nhà cung cấp dịch vụ. Trong NGN, IP trở thành nền móng của mạng. IP cho phép tiếp tục phát triển mạng để đáp ứng những thay đổi không ngừng trong các nhu cầu khách hàng và trong các cơ sở hạ tầng sẵn có.

 

Từ viễn cảnh nhà cung cấp dịch vụ, NGN phải được nhìn nhận như một khái niệm hoàn chỉnh và tổng hợp. Song song với việc biến đổi mạng, NGN còn cho phép chuyển sang một mô hình kinh doanh mới. IP NGN tạo điều kiện cho nhà cung cấp dịch vụ vượt qua thoại và xây dựng một mạng duy nhất sẽ cung cấp tất cả các dịch vụ hiện tại và tương lai. Trong khi thoại sẽ vẫn là một phần quan trọng trong danh mục vốn đầu tư của công ty điện thoại, thì lợi nhuận sẽ càng ngày càng phụ thuộc vào khả năng cung cấp các dịch vụ phong phú, đa dạng, trong đó có tích hợp thoại, dữ liệu và video.

       

 

NGN giúp cho các công ty điện thoại đáp ứng các thách thức này theo ba cách:

- Giảm các chi phí đầu tư và khai thác

- Khả năng cung cấp các dịch vụ gia tăng giá trị khách hàng

- Khả năng cung cấp các dịchvụ gia tăng giá trị DN.

 

Giảm các chi phí đầu tư và khai thác

Một động lực chính khuyến khích các công ty điện thoại chấp nhận đi theo IP NGN là sự cần thiết phải hạ thấp chi phí khai thác cố định nhằm cạnh tranh hiệu quả trong kinh doanh hàng hoá. Hạ tầng cơ sở đa dịch vụ thống nhất của NGN đem lại các hiệu quả trong cả các phí tổn khai thác lẫn các chi phí đầu tư so với cơ cấu đa mạng ngày nay.

 

Hiện tại, các công ty điện thoại phải duy trì một tổ hợp của nhiều mạng có dịch vụ riêng biệt, chẳng hạn như thoại chuyển mạch kênh, chuyển tiếp khung (FR), Phương thức chuyển tải không đồng bộ (ATM) và IP. Nhu cầu khách hàng ngày càng tăng thể hiện sự cần thiết phải có thêm trang thiết bị cho mỗi loại mạng này. Các công ty điện thoại giảm được đáng kể các chi phí nói trên nhờ việc chuyển đổi sang một kiến trúc mạng hội tụ đa dịch vụ từ kiến trúc đa mạng, dịch vụ riêng lẻ này. Việc triển khai các mạng hội tụ hiện nay là khả dĩ, bởi vì công nghệ IP MPLS ( chuyển mạch nhãn đa giao thức) đã chín muồi và có thể đem lại lợi ích đáng kể cho cả nhà khai thác lẫn các khách hàng của họ.

 

Các dịch vụ Khách hàng gia tăng giá trị

Động lực chủ yếu thứ hai là nhu cầu để các công ty điện thoại cộng thêm các dịch vụ gia tăng giá trị có biên dự trữ cao vào các danh mục chào hàng của họ. Trong NGN, công nghệ IP là một lớp mạng tiêu chuẩn mà trên đó tất cả các dịch vụ truyền thông cho thị trường tiêu dùng sẽ được phân phát. Mức độ nhanh nhậy mà các công ty điện thoại cần có để có thể khai trương và triển khai các dịch mới nhằm đáp ứng nhu cầu về các dịch vụ IP tích hợp có thể được cải thiện triệt để bằng việc chuyển sang một kiến trúc hội tụ đa dịch vụ. Nhu cầu của khách hàng về truyền thông đa phương tiện liền mảnh và nhanh chóng, bao gồm thoại, dữ liệu và video đang đem đến cho các công ty điện thoại một cơ hội thu lợi từ các dịch vụ hội tụ mang phong cách hiện đại.  

 

Các dịch vụ DN gia tăng giá trị

Động lực thứ ba là nhu cầu để các công ty điện thoại mở rộng các dịch vụ của họ tới thị trường doanh nghệp khi mà thu nhập từ thoại sụt giảm một cách đột ngột. Các DN đủ mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến các DN nhỏ, biêủ thị các cơ hội tìm những dịch vụ thúc đẩy tiềm năng của các ứng dụng hội tụ. Các thí dụ bao gồm các IP VPN, thoại tích hợp và nhắn tin e-mail, hội nghị video, quản lý bán hàng thực địa và biên chế công nhân viên phục vụ, các ứng dụng dựa vào định vị và các ứng dụng thương mại điện tử hội tụ. Do nhiều DN đã nhận biết được giá trị của các mạng hoàn toàn IP, cho nên các công ty điện thoại phải hành động nhanh chóng trước khi nhu cầu thị trường này bắt đầu bị chính bản thân các khách hàng lấp đầy khi họ xây dựng và quản lý các dịch vụ hội tụ riêng của họ.

 

NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA CÁC MẠNG TRUYỀN THỐNG VÀ NGN

Việc quá độ sang các mạng NGN đem lại cho công ty điện thoại khả năng tiềm tàng để cải thiện đáng kể công việc kinh doanh, cả về mặt giảm chi phí, cả về mặt mở rộng các dịch vụ tới các khách hàng cả trong thị trường kinh doanh lẫn thị trường tiêu dùng. Một số các lợi ích này, đặc biệt là trong việc mở rộng dịch vụ, công ty điện thoại có thể đạt được ngay cả khi mạng TDM tiếp tục hoạt động bên cạnh NGN. Tuy nhiên, một số lợi ích về chi phí có thể chưa đạt được ngay trước khi công ty điện thoại tiến hành chuyển đổi tất cả các dịch vụ sang một mạng NGN thống nhát.

 

 

Bảng 1: Những khác biệt chủ yếu

Truyền thống

NGN

TDM

IP

Chuyển mạch kênh

Chuyển mạch gói/nhãn

Thiết kế phân cấp

Mạng phẳng

Đường truyền được giữ chỗ trong suốt thời gian cuộc gọi

Tài nguyên rỗi không bị lãng phí                                                      

Các hành trình (các nhóm trung kế) được thiết kế trước

Các hành trình được quyết định một cách năng động   

Chi phí triển khai ban đầu và chi phí mở rộng đều rất cao

Được thiết để truyền dẫn số liệu đột phát                                                               

Các tốc độ chuyển thông tin không biến đổi được    

Hỗ trợ các tốc độ chuyển thông tin khả biến (thoại, dữ liệu và video) 

Chuyển mạch vững chắc với toàn bộ chức năng chứa trong một chiếc hộp  

Các chức năng chuyển mạch được phân bố trong các hộp khác nhau với các giao diện mở, tiêu chuẩn  

Các dịch vụ và các tính năng tuỳ thuộc vào sự cài đặt của nhà sản xuất          

Các dịch vụ và các ứng dụng có thể được cài đặt và đặt hàng riêng bởi các hãng sản xuất hoặc các nhà triển khai thuộc bên thứ ba

Chi phí triển khai ban đầu và chi phí mở rộng đều rất cao         

Rất linh hoạt khi bổ sung các tài nguyên khi nào cần và ở đâu cần với việc thâm nhập các thị trường mới có chi phí rẻ hơn     

 

 

Bảng 1 tóm lược một số các khác biệt chủ yếu giữa một mạng “truyền thống”  và một mạng “thế hệ mới”. Trong khi một vài trong số các khác biệt này có vẻ như xa lạ đối với công ty nào đó đang vận hành một mạng số liệu bên cạnh mạng PSTN thì việc chuyển dịch này vẫn thể hiện một sự thay đổi căn bản trong hình mẫu của một mạng viễn thông.

 

Những khác biệt về kỹ thuật giữa mạng truyền thống và mạng NGN thì nhiều công ty điện thoại đều đã biết và đã hiểu: IP so với TDM, chuyển mạch gói chứ không phải chuyển mạch kênh, một thiết kế mạng phẳng thay vì thiết kế mạng phân cấp, và gán năng động các đường truyền chứ không phải xếp đặt trước các đường truyền.

 

Tuy nhiên, một số các khác biệt mua sắm mạng thì đôi khi ít được biết đến hơn. Quan trọng nhất là các giao diện mở và tiêu chuẩn của NGN cho phép công ty điện thoại có được các thành phần mạng khác nhau từ nhiều nhà sản xuất. Trong phạm vi NGN, các công ty điện thoại có thể triển khai các mạng linh hoạt với các tính năng không phụ thuộc vào lộ trình sản phẩm của một nhà sản xuất thiết bị duy nhất.

 

 

 

CHUYỂN ĐỔI SANG MỘT MẠNG IP NGN

Quá độ từ mạng TDM

Tuỳ thuộc vào quy mô công ty, phạm vi các dịch vụ, và tính đa dạng của mạng hiện tại, việc chuyển đổi sang một mạng IP NGN cần được thực thi theo các giai đoạn:

1. Thử nghiệm thực địa để lựa chọn các nhà cung ứng.

2. Một hay nhiều cuộc thực tập lắp đặt chủ đạo để tích luỹ kinh nghiệm trong việc triển khai và khai thác một mạng NGN

3. Loạt các công trình lắp đặt khu vực, và

4.  Chuyển tiếp sang một mạng NGN hoàn chỉnh cho tất cả các dịch vụ.

 

Trong quá trình lắp đặt khu vực, các khoản đầu tư hiện tại trong mạng PSTN (chỉ dùng cho thoại là chính) có thể được kết hợp với NGN theo cách thức sao cho nó là trong suốt tới các khách hàng của công ty điện thoại. Điều này là có thể thực hiện được qua việc sử dụng các cổng phương tiện (Media Gateway), các cổng này hoạt động như các thiết bị trung gian PSTN dựa trên TDM và NGN dựa trên IP. Một số các cổng phương tiện hoạt động như các cổng trung kế để cung cấp khả năng kết nối tới các tổng đài nội hạt thông qua các giao diện SDH tiêu chuẩn. Một số các cổng phương tiện khác lại hoạt động như các cổng truy nhập để cung cấp các giao diện tới các khách hàng trên các link TDM. Cổng báo hiệu sẽ kết nối hệ thống báo hiệu SS7 từ tổng đài PSTN tới chuyển mạch mềm.

 

Việc sử dụng cách thức “đồng triển khai” trước khi chuyển đổi sang NGN hoàn chỉnh thường đem lại sự cân bằng tối ưu giữa việc tối đa hoá thu nhập từ các dịch vụ NGN mới, giảm thiểu các khoản đầu tư tài chính và nâng cao hoạt động mạng.

 

Các cuộc chuyển đổi trong thời gian quá độ

Việc quá độ từ một mạng TDM sang một mạng IP NGN trên thực tế đòi hỏi sáu cuộc chuyển đổi song song với nhau: chuyển đổi chuyển tải, chuyển đổi cơ sở dữ liệu mạng, chuyển đổi báo hiệu/IN (mạng thông minh), chuyển đổi OSS, chuyển đổi BSS và chuyển đổi lưu lượng.

 

Trong khi tất cả sáu quá trình này rốt cuộc là cần phải có để đạt được những lợi ích đầy đủ của NGN thì một số công ty điện thoại có thể tiết kiệm các chi phí đầu tư ban đầu bằng việc trì hoãn chuyển đổi chuyển tải, chuyển đổi OSS và chuyển đổi lưu lượng đối với các dịch vụ hiện có cho tới khi NGN bắt đầu tạo ra thu nhập đáng kể dựa trên các ứng dụng giầu phương tiện (media-rich).

 

Kinh nghiệm trong các công trình lắp đặt tiền NGN của công ty Telrad có thể được sử dụng để giúp cho việc hướng dẫn nhà cung cấp dịch vụ lập thiết kế chiến lược chuyển đổi sao cho phù hợp với các khả năng chi tiêu đầu tư của công ty và làm tăng tối đa lợi nhuận tổng thể từ việc quá độ sang NGN.

 

Chuyển đổi báo hiệu/mạng thông minh (IN)

NGN mở ra cơ hội vừa làm giảm chi tiêu, vừa mở rộng quy mô các công ty điện thoại cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng cao hơn. Tuy nhiên, một trong những thách thức trong việc triển khai thực hiện một mạng NGN là phải đảm bảo rằng không có ngừng trệ nào xảy ra đối với các dịch vụ hiện tại của công ty điện thoại trong quá trình chuyển tiếp.

 

Trong mạng TDM hiện tại, nhiều dịch vụ được cung cấp qua mạng báo hiệu hoặc thông qua các giao diện của mạng thông minh phụ trợ. Một kế hoạch chuyển đổi báo hiệu/IN là cần thiết để đánh giá nhu cầu đang tiếp diễn cho các dịch vụ này. Kế hoạch này cũng phải nhận dạng được cách thức hiệu quả nhất để triển khai các dịch vụ hiện có trên mạng IP.

 

Chuyển đổi chuyển tải

Một quá trình chuyển đổi chuyển tải chi tiết hoá là cần thiết để chỉ đạo sự quá độ sang NGN. Các yêu cầu dung lượng trong quá trình chuyển đổi có thể sẽ lớn hơn so với cả các yêu cầu hiện tại và các yêu cầu dung lượng mạng giai đoạn cuối. Như một phần của chuyển đổi chuyển tải, thiết kế mạng cần được đánh giá theo những vấn đề giống như các vùng phủ sóng vật lý và khoảng không sàn nhằm giảm thiểu sức lực tổng thể để xây dựng mạng IP giai đoạn cuối.

 

Chuyển đổi CSDL

Một kế hoạch chuyển đổi CSDL cụ thể cũng rất cần thiết, bởi vì mạng hiện tại chứa một khối lượng lớn thông tin thuê bao cần được giữ gìn an toàn trong thời gian quá độ sang NGN. Kế hoạch này phải bao gồm các dữ liệu trong các tổng đài PABX và các kho dữ liệu của mạng thông minh. Tốc độ chuyển đổi dữ liệu sẽ phụ thuộc vào chiến lược chuyển đổi tổng thể. Việc sử dụng giải pháp đồng-triển khai để đưa NGN vào phục vụ sẽ dẫn đến việc chuyển đổi CSDL nhịp nhàng hơn so với một nỗ lực biến đổi toàn bộ mạng một cách song song. Tốc độ chuyển đổi cũng sẽ được quyết định bởi những vướng mắc, chẳng hạn như tính sẵn sàng của các ứng dụng và trạng thái hiện tại của các hệ thống BSS và OSS.

 

Chuyển đổi OSS

Kế hoạch chuyển đổi  OSS tâp trung vào hai vấn đề quan trọng:

- Các hệ thống quản lý mạng hoạt động như thế nào trong quá trình chuyển đổi?

- Các hệ thống quản lý mạng hoạt động như thế nào ở giai đoạn cuối khi công ty điện thoại đã có được một mạng NGN hoàn toàn-IP?

 

Các hệ thống OSS là trung tâm của các hoạt động cung ứng và bảo dưỡng của công ty điện thoại. Sự đồng bộ hoá hoàn hảo với mạng là rất cần thiết  để bảo đảm các thời gian cung ứng và sửa chữa. Các dữ liệu OSS cần được chuyển đổi để hỗ trợ cơ sở hạ tầng IP, và các dữ liệu từ các các hệ thống di sản có thể sẽ phải được chuyển giao và chuyển đổi sang một OSS mới. Các dữ liệu chuyển đổi phải có khả năng hỗ trợ các hệ thống tính cước và quản lý khách hàng- cả những hệ thống còn lại từ mạng đang hoạt động và cả những hệ thống cần thiết để hỗ trợ thế hệ mới các dịch vụ giầu nội dung trong NGN.

 

Chuyển đổi BSS

Kế hoạch chuyển đổi BSS tập trung vào việc các hệ thống hỗ trợ kinh doanh sẽ làm việc như thế nào trong quá trình chuyển đổi và trong quá trình vận hành mạng IP NGN mới. Chúng bao gồm các hệ thống tính cước và CRM. Do mạng IP NGN sẽ được sử dụng để cung ứng một phạm vi rộng các dịch vụ, cho nên cần phải có các giải pháp tính cước mới. Ngoài ra, quá trình  quá độ sang một mạng NGN có thể được sử dụng như một cơ hội đơn giản hoá các hệ thống BSS để phản ánh sự chuyển tiếp sang các dịch vụ định gia cố định và sang các kế hoạch tính cước ít phức tạp hơn.

 

Chuyển đổi lưu lượng

Do hầu hết các công ty điện thoại thực hiện chiến lược đồng triển khai - được khuyến nghị trong quá trình quá độ, cho nên cần phái có một kế hoạch chuyển đổi lưu lượng. Có lẽ công ty điện thoại muốn cung cấp cho các nhóm khách hàng cụ thể sự lựa chọn giữa một số các kịch bản chuyển đổi, tuỳ thuộc vào các ứng dụng yêu cầu. Kế hoạch chuyển đổi lưu lượng cũng sẽ phản ánh thiết kế mạng chuyên biệt và các mức độ ưu tiên chuyển đổi của công ty điện thoại.

 

Triển khai lắp đặt Greenfield

Việc triển khai lắp đặt một mạng NGN Greenfield có thể nhanh hơn rất nhiều so với quá trình quá độ thảo luận ở trên. Cho dẫu như vậy, các cuộc thử nghiệm thực địa, các cuụoc triển khai lắp đặt trọng điểm và các thực thi khu vực vẫn được khuyến nghị đối với hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ.

 

Tài liệu tham khảo

www.telrad.com: Transition to NGN

Việt Thanh

 


 

Email bài này | Liên hệ | In bài này  
Các bài mới:
     Hội tụ giúp các nhà khai thác vượt qua khủng hoảng (31/08)
     Phương án xây dựng hệ thống truyền dẫn cho các doanh nghiệp mới tham gia thị trường di động (31/08)
     Giải pháp truyền dẫn wireless backhaul cho mạng di động (30/08)
     Blue Coat giới thiệu thiết bị tiết kiệm băng thông (30/08)
     Tin tức thế giới về công nghệ thông tin (30/08)
     Các dịch vụ thoại thế hệ tiếp theo tạo các cơ hội doanh thu mới (27/08)
     Ngành Điện tử đối mặt với nguy cơ khủng hoảng (26/08)
Các bài đã đăng:
     10 xu hướng phát triển công nghệ viễn thông năm 2009 (29/06)
     SMS Locator - Nhắn tin là thấy (25/06)
     10 xu hướng phát triển công nghệ viễn thông năm 2009 (25/06)

Các tin khác 

 

 
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

© Bản quyền thuộc Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: 95E, Lý Nam Đế, Hà Nội.  Điện thoại: (04)37737136.   Fax: (04)37737130.   Email: tapchibcvt@mic.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Thông tin và Truyền thông. Phó Tổng biên tập phụ trách: Vũ Chí Kiên
Giấp phép số 131/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và trang tin điện tử cấp ngày 7/10/2009.