Sơ đồ Website
English 

 Xem theo số báo
Tháng Số mới nhất 
 

 Liên kết
Bộ TT&TT (MIC)
Chính phủ

 Tìm kiếm

 

386250

Trang nhất > Bưu chính - Chuyển phát
Vấn đề dự báo cho đề án phát triển điểm Bưu điện – Văn hóa xã
10:32, 25/06/2009


ThS. Nguyễn Anh Thư

 

Tại Hội nghị tổng kết 10 năm hoạt động của Điểm Bưu điện – Văn hoá xã (BĐVHX) diễn ra vào đầu tháng 08/2008 tại Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp đã chỉ đạo củng cố, điều chỉnh và tiếp tục phát triển hệ thống Điểm BĐVHX. Điều này đặc biệt có ý nghĩa bởi hai lý do sau: Với hơn 8000 điểm trên toàn quốc, các Điểm BĐVHX không những góp phần tích cực vào việc đảm bảo năng lực phục vụ của ngành BCVT [1], mà còn đóng vai trò khá quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa ở vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, xa, khó khăn. Vấn đề là củng cố như thế nào, điều chỉnh phương diện nào và phát triển ra sao,…đều phụ thuộc chặt chẽ với kết quả dự báo về phát triển dịch vụ bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin (BCVT – CNTT) trong thời gian tới. Bài viết này sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến công tác dự báo cho Đề án phát triển Điểm BĐVHX.

 

Mở đầu

Giai đoạn kế hoạch của Đề án được dự định là từ nay cho đến 2015 và 2020, như vậy, đây là Quy hoạch phát triển trung hạn (5 năm) và dài hạn (10 năm). Để làm các quy hoạch trung hạn và dài hạn thì bao giờ cũng phải có các số liệu dự báo liên quan. Để làm Đề án phát triển Điểm BĐVHX đến 2015 – 2020 thì phải có số liệu dự báo về phát triển các dịch vụ BCVT – CNTT nông thôn Việt Nam của các giai đoạn tương ứng.

 

1. Ý nghĩa của số liệu dự báo đến nội dung Đề án

Số liệu dự báo là sở cứ quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển Điểm BĐVHX. Trong quy hoạch phát triển Điểm BĐVHX có 03 thông số quan trọng phải được xác định chính xác trên cơ sở khoa học, đó là: mật độ phân bổ Điểm BĐVHX theo vùng địa lý, quy mô của các Điểm BĐVHX và chức năng của Điểm BĐVHX. Mối quan hệ giữa vấn đề dự báo nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT vùng nông thôn và các thông số này được diễn giải như sau:

 

Thứ nhất, về Mật độ Điểm BĐVHX theo từng vùng trong tương lai sẽ phụ thuộc vào số liệu dự báo về nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT tại vùng đó

Nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT bao gồm nhu cầu về chủng loại dịch vụ và nhu cầu về số lượng của từng dịch vụ. Chủng loại dịch vụ BCVT tại một Điểm BĐVHX nhiều hay ít, thậm chí chỉ cần đủ những loại dịch vụ phải đảm bảo cung cấp trên mạng bưu chính công cộng hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của người dân (Điểm BĐVHX sẽ cung cấp những loại dịch vụ cơ bản, đơn giản như gửi thư, gọi điện thoại,…hay đẩy mạnh phát triển các dịch vụ hiện đại, giá trị cao như chuyển tiền nhanh, EMS, Internet,…). Về mật độ từng dịch vụ của các Điểm BĐVHX được thể hiện như là số máy điện thoại/người, số bưu phẩm hàng ngày/người,...

 

Hiện tại đã có bản đồ phân bố Điểm BĐVHX trên toàn quốc [1]. Mật độ này hình thành trên cơ sở quy định về công tác đầu tư xây dựng Điểm BĐVHX trước đây, được thực hiện theo nguyên tắc bình quân: cụ thể, những xã chưa có bưu cục 3 được coi là những xã đủ tiêu chuẩn để đầu tư Điểm BĐVHX. Quy định này không những đáp ứng được mục tiêu tăng cường năng lực phục vụ của ngành BCVT (xét về mặt mạng lưới), mà còn đơn giản hóa cho công tác xét duyệt đầu tư. Tuy nhiên, mật độ này là chưa hợp lý cho hiện tại và tương lai [1].

 

Do nhiều nguyên nhân, nhu cầu về dịch vụ BCVT – CNTT vùng nông thôn nói chung và tại các điểm phục vụ công cộng (trong đó có Điểm BĐVHX) nói riêng đã và sẽ thay đổi. Sự phân hóa về nhu cầu đang diễn ra một cách mạnh mẽ, không chỉ giữa các khu vực mà còn trong từng vùng địa lý hẹp (như các khu dân cư lân cận nhau). Vì vậy, cần căn cứ vào kết quả dự báo nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT để thực hiện điều chỉnh mật độ phân bố Điểm BĐVHX hiện nay. Cụ thể: ở những xã (chưa có bưu cục 3), nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT công cộng cao, diện tích rộng thì số lượng Điểm BĐVHX/xã có thể lớn hơn 1 và ngược lại. Mật độ phân bố Điểm BĐVHX sẽ được cân đối với số lượng điểm phục vụ/xã theo Quyết định số 50/2008/QĐ – BTTTT ngày 12/11/2008. 

 

Thứ hai, đối với Quy mô của các Điểm BĐVHX sẽ phụ thuộc số liệu dự báo về sự tăng giảm của nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT tại từng vùng

Quy mô Điểm BĐVHX được hiểu là quy mô về hạ tầng cơ sở và số lượng nhân viên phục vụ. Hiện tại theo quy định của VNPT thì quy mô của các Điểm BĐVHX về cơ bản là như nhau (bao gồm kiến trúc, diện tích, kinh phí đầu tư, số lượng nhân viên,…). Trong giai đoạn đầu phát triển, những quy định đó đã phát huy tính tích cực là tạo điều kiện cho mạng lưới Điểm BĐVHX nhanh chóng trên cả nước và thuận tiện cho công tác quản lý. Nhưng điều này cũng đã bộc lộ bất cập. Nhiều Điểm BĐVHX có khả năng phát triển hoạt động kinh doanh, cần mở rộng diện tích, điều chỉnh, thay đổi cấu trúc nhà Điểm BĐVHX cho phù hợp hơn nhưng thủ tục trình xin phép rất phức tạp, do vướng các quy định nói trên. Trong tương lai, kết quả dự báo sẽ cho biết sự tăng giảm về nhu cầu dịch vụ BCVT – CNTT theo vùng địa bàn; sự tăng giảm đó sẽ là cơ sở điều chỉnh quy mô các Điểm BĐVHX theo các hướng khác nhau bao gồm cả mở rộng, giữ nguyên,…Tại những địa bàn có sự tăng về chủng loại dịch vụ và mật độ từng dịch vụ thì quy mô Điểm BĐVHX phải được đầu tư lớn (mở rộng diện tích, tăng số tầng, đầu tư trang thiết bị hiện đai, thêm nhân viên,…). Ngược lại, cần xem xét điều chỉnh quy mô của các Điểm BĐVHX ở những vùng có sự sụt giảm về chủng loại và mật độ từng dịch vụ theo dự báo.

 

Chức năng của Điểm BĐVHX cũng phụ thuộc vào kết quả dự báo về nhu cầu dịch vụ

Hiện tại tất cả các Điểm BĐVHX có chức năng như nhau về hoạt động kinh doanh và hoạt động phục vụ [1]. Điều này là không hợp lý cho hiện tại và càng không hợp lý trong tương lai. Bởi vì các Điểm BĐVHX nằm ở các địa bàn khác nhau, có tình hình kinh tế xã hội khác nhau, có nhu cầu về dịch vụ BCVT – CNTT khác nhau. Vì vậy, nếu không xác định chính xác mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng của từng Điểm BĐVHX tại các địa bàn khác nhau, sẽ dẫn tới sự đánh giá sai lệch về hiệu quả đầu tư, phát triển mạng lưới; trong tương lai, có thể dẫn tới sự sai lầm trong đầu tư (ví dụ tiếp tục đầu tư Điểm BĐVHX ở vùng không có nhu cầu và ngược lại). Điều này có thể được khắc phục nhờ kết quả của công tác dự báo: ở những vùng được dự báo là kinh tế phát triển, do đó nhu cầu về dịch vụ BCVT – CNTT phát triển thì cần đẩy mạnh phát triển kinh doanh, ngược lại ở những vùng cơ yếu (vùng đắc địa về an ninh quốc phòng nhưng kinh tế chưa phát triển) thì phải lấy nhiệm vụ phục vụ là chính. Như vậy, cần điều chỉnh chức năng từng Điểm BĐVHX cho phù hợp với kết quả dự báo.

 

Số liệu dự báo là sở cứ quan trọng để xây dựng quan điểm chỉ đạo phát triển hệ thống Điểm BĐVHX

Quan điểm chỉ đạo về phát triển Điểm BĐVHX phải phản ánh yêu cầu về chính trị và kinh tế [1, 2].

- Về mặt chính trị, kết quả dự báo về nhu cầu dịch vụ ở những vùng cơ yếu sẽ là định hướng cho chủ trương điều chỉnh hệ thống Điểm BĐVHX ở những vùng đó, bao gồm mật độ, quy mô và chức năng cho hợp lý.

- Về mặt kinh doanh, kết quả dự báo về mức độ phát triển dịch vụ BCVT – CNTT của các vùng nông thôn toàn quốc cũng sẽ chỉ ra vùng nào là vùng thị trường tiềm năng về kinh doanh BCVT – CNTT và do đó sẽ có chủ trương chỉ đạo quyết liệt phát triển Điểm BĐVHX để chiếm lĩnh thị trường này [1, 2, 3].

 

2. Nội dung của dự báo phát triển dịch vụ BCVT – CNTT nông thôn Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 – 2020

Để phục vụ tốt những yêu cầu của công tác quy hoạch và xây dựng quan điểm chỉ đạo trong Đề án phát triển Điểm BĐVHX, công tác dự báo từ nay cho đến 2015 và 2020 cần tập trung vào các nội dung sau đây:

- Dự báo sự tăng giảm chủng loại dịch vụ

- Dự báo sự tăng giảm mật độ từng dịch vụ

3. Yêu cầu của Dự báo phát triển dịch vụ BCVT – CNTT nông thôn Việt Nam

Như trên đã trình bày, kết quả dự báo này sẽ chi phối việc lập quy hoạch phát triển Điểm BĐVHX và xác lập quan điểm chỉ đạo phát triển Điểm BĐVHX. Vì vậy, kết quả dự báo phải là số liệu định lượng và chính xác.

 

- Kết quả dự báo phải định lượng, nghĩa là kết quả dự báo phải có số liệu cụ thể, không chỉ nói tăng giảm chung chung. Kết quả dự báo phải định lượng thì mới có sức thuyết phục.

 

- Kết quả dự báo phải chính xác. Kết quả dự báo là cho thời khoảng quy hoạch trung hạn và dài hạn. Vì vậy, độ chính xác là rất quan trọng, nhất là cho cuối kỳ quy hoạch. Đây là vấn đề khó, tuy nhiên phải tiến hành công tác dự báo một cách khoa học, kỹ lưỡng, đặc biệt là việc lựa chọn phương pháp dự báo để có thể đạt được những yêu cầu nói trên. Vấn đề này sẽ trình bày ở mục dưới đây.

 

4. Lựa chọn phương pháp dự báo dịch vụ BCVT – CNTT nông thôn Việt Nam

Hiện tại có nhiều phương pháp dự báo khác nhau, ví dụ như là:

 

4.1. Phương pháp ngoại suy

Bản chất của phương pháp ngoại suy là kéo dài quy luật đã hình thành trong quá khứ để làm dự báo cho tương lai.

Giả thiết cơ bản của phương pháp này là sự bảo toàn nhịp điệu, quan hệ và những quy luật phát triển của đối tượng dự báo trong quá khứ cho tương lai.

Thông tin cung cấp cho phương pháp ngoại suy là số liệu về động thái của đối tượng dự báo trong quá khứ qua một số năm nhất định, thông thường yêu cầu thời khoảng quá khứ có số liệu phải lớn hơn nhiều lần thời khoảng làm dự báo (ví dụ 10 lần).

Phương pháp này sẽ thích hợp để dự báo những đối tượng phát triển theo kiểu tiệm tiến.

Phương pháp ngoại suy có ưu điểm là đơn giản, tuy nhiên, nhược điểm chính là không tính được ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kết quả dự báo.

 

4.2. Phương pháp chuyên gia (phương pháp chủ quan)

Bản chất của phương pháp chuyên gia là lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia để làm kết quả dự báo.

Phương pháp này được triển khai theo một quy trình chặt chẽ bao gồm nhiều khâu: thành lập nhóm chuyên gia, đánh giá năng lực chuyên gia, lập biểu câu hỏi và xử lý toán học kết quả thu được từ ý kiến chuyên gia.

Khó khăn của phương pháp này là việc tuyển chọn và đánh giá khả năng của các chuyên gia.

Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả cho những đối tượng thiếu (hoặc chưa đủ) số liệu thống kê, phát triển có độ bất ổn lớn.

 

4.3. Phương pháp mô hình hoá

Bản chất của phương pháp này là kế thừa 02 phương pháp nói trên.

Phương pháp luận của phương pháp này là dùng hệ thức toán học để mô tả mối liên hệ giữa đối tượng dự báo với các yếu tố có liên quan.

Khó khăn của phương pháp này là phải viết được chính xác hệ thức toán học nói trên.

Phương pháp mô hình hoá áp dụng cho viễn thông được gọi là mô hình kinh tế lượng bởi vì đối tượng dự báo (dịch vụ viễn thông) có liên quan đến nhiều yếu tố kinh tế ví dụ GDP, giá cả,…

 

Ưu điểm của phương pháp này là có thể giải thích được kết quả dự báo và có thể phân tích ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến kết quả dự báo.

 

Nhược điểm của phương pháp này là yêu cầu số liệu của nhiều yếu tố hữu quan trong quá khứ trong khi đó, phương pháp ngoại suy chỉ yêu cầu một loại số liệu.

Hiện tại nhiều nước đã có phần mềm dự báo này, tuy nhiên, khi áp dụng cho Việt Nam thì cần phải hiệu chỉnh một ít thông số cho phù hợp.

 

Để dự báo cho viễn thông, Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) cũng đã giới thiệu một số mô hình [4], trong đó ngoại suy hàm mũ cho giai đoạn đầu, ngoại suy tuyến tính cho giai đoạn phát triển ổn định và ngoại suy hàm Gomes cho giai đoạn bão hoà.

Thông thường khi dự báo người ta chọn một phương pháp làm chủ đạo, đồng thời có so sánh kết quả với một số phương pháp khác để kiểm tra, hiệu chỉnh.

Để dự báo dịch vụ BCVT – CNTT cho nông thôn Việt Nam, có thể tham khảo “Quy hoạch tổng thể phát triển viễn thông quốc gia Việt Nam” do một số tổ chức tư vấn nước ngoài thực hiện như là DETECON, TELSTRA, JICA,…

 

Để thực hiện chủ trương củng cố, điều chỉnh và phát triển Điểm BĐVHX trên phạm vi toàn quốc thì có nhiều việc cần làm, mà trong đó có một việc rất quan trọng là công tác dự báo về sự phát triển các dịch vụ BCVT – CNTT vùng nông thôn Việt Nam.

Do kết quả của dự báo có ảnh hưởng quyết định đến Đề án cho nên để Dự báo đạt được yêu cầu là định lượng và chính xác thì phải tiến hành công tác dự báo một cách nghiêm túc theo các phương pháp khoa học như đã trình bày ở trên.

 

Tài liệu tham khảo

[1]. Đề tài cấp Tập đoàn “Nghiên cứu đề xuất tiêu chí phân loại và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Điểm BĐVHX”. Đề tài mã số: 001-2007 - TĐ-RDP-QL-74 (VNPT). Chủ trì: ThS. Nguyễn Anh Thư.

[2]. ThS. Nguyễn Anh Thư, “Đề xuất phương pháp đánh giá hoạt động của các Điểm BĐVHX” 2008, Tạp chí CNTT&TT, Kỳ 1 tháng 2/2008.

[3]. ThS. Nguyễn Anh Thư, “Phương pháp xác định khả năng cân bằng thu chi của các Điểm BĐVHX”, 2008, Tạp chí CNTT&TT, Kỳ 1 tháng 9/2008.

[4]. ITU – PLANITU, Network Planning Program, Documentation.


 

Email bài này | Liên hệ | In bài này  
Các bài mới:
     Bưu chính Việt Nam với nghĩa vụ đảm bảo chất lượng dịch vụ Bưu chính công ích (23/08)
     VNPost: Khuyến mãi dịch vụ bưu chính chào mừng Tuần lễ VNPT 2010 (06/08)
     Đảm bảo toàn dân được tiếp cận các dịch vụ bưu chính (01/08)
     VNPost tổ chức Cuộc thi thiết kế Tem “Việt Nam trong Cộng đồng ASEAN” (15/07)
     Khai giảng khóa đào tạo “Quản lý Bưu chính” (06/07)
     Giải thưởng Bưu chính thế giới 2010 vinh danh nhà khai thác chưa tên tuổi (25/06)
     Quốc Hội thông qua Luật Bưu chính (21/06)
Các bài đã đăng:
     Đề xuất hệ thống đánh giá chất lượng nghiệp vụ Bưu chính tạI các Bưu điện Tỉnh, Thành phố (25/06)
     Danh sách giải quốc gia cuộc thi viết thư UPU lần thứ 38 năm 2009 (29/05)
     Một học sinh TP. Đà Nẵng đoạt giải Nhất cuộc thi viết thư quốc tế UPU 38 năm 2009 (29/05)

Các tin khác 

 

 
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:
Email:
Tiêu đề:
Tắt bộ gõ Tự động Telex VNI VIQR

© Bản quyền thuộc Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông
Địa chỉ: 95E, Lý Nam Đế, Hà Nội.  Điện thoại: (04)37737136.   Fax: (04)37737130.   Email: tapchibcvt@mic.gov.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Thông tin và Truyền thông. Phó Tổng biên tập phụ trách: Vũ Chí Kiên
Giấp phép số 131/GP-TTĐT do Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và trang tin điện tử cấp ngày 7/10/2009.